Phát biểu kết luận Hội thảo “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” diễn ra sáng 30/9 tại Phú Thọ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho rằng công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp nền tảng, trực tiếp quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và mức độ tham gia của nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo Phó Thủ tướng, công nghiệp hỗ trợ không chỉ bao gồm sản xuất linh kiện, phụ tùng, vật liệu mà còn bao gồm công nghệ chế tạo, thiết kế, đo lường, thử nghiệm… Đây là những yếu tố quyết định “độ sâu” và sức chống chịu của nền công nghiệp.
Một quốc gia có thể sản xuất, lắp ráp những sản phẩm công nghệ rất hiện đại nhưng vẫn chưa có nền tảng công nghiệp tự chủ nếu phần lớn linh kiện, vật liệu, công nghệ và thiết bị đầu vào phải nhập khẩu.
“Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp”, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.
Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu nhìn thẳng vào thực tế công nghiệp hỗ trợ vẫn "rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh.
Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên
Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn “rộng mà chưa sâu”
Theo số liệu được Phó Thủ tướng Thường trực dẫn tại hội thảo, Việt Nam hiện có trên 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Một số tập đoàn trong nước đã bắt đầu đóng vai trò doanh nghiệp đầu chuỗi.
Tuy nhiên, năng lực công nghiệp hỗ trợ vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện qua thực trạng “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”.
Đáng chú ý, khu vực FDI chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 và 80,1% trong 8 tháng năm 2026. Trong khi đó, mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế; theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới được dẫn tại hội thảo, tỷ lệ này mới khoảng 18% và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn.
Đặc biệt, tỷ lệ cung ứng trong nước cho các ngành công nghiệp công nghệ cao mới đạt khoảng 5-10%.
Những con số này đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại chất lượng tăng trưởng công nghiệp, thay vì chỉ nhìn vào quy mô sản xuất hay kim ngạch xuất khẩu. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia ở công đoạn nào và tạo ra bao nhiêu giá trị trong mỗi sản phẩm xuất khẩu.
Đây cũng là bài toán đặc biệt quan trọng đối với ngành điện tử và bán dẫn, những lĩnh vực đang giữ vai trò ngày càng lớn trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam nhưng vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn linh kiện, vật liệu, thiết bị và công nghệ nhập khẩu.
Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các cơ quan, bộ, ngành đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận phát triển công nghiệp hỗ trợ với 5 chuyển đổi căn bản.
Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên
Năm chuyển đổi trong tư duy phát triển công nghiệp hỗ trợ
Từ thực tế trên, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận phát triển công nghiệp hỗ trợ với 5 chuyển đổi căn bản.
Trước hết, chuyển từ “nội địa hóa theo tỷ lệ” sang “làm chủ năng lực”. Việt Nam không nhất thiết phải tự sản xuất mọi loại linh kiện, vật liệu mà cần xác định rõ những năng lực chiến lược phải làm chủ, những lĩnh vực cần bảo đảm khả năng thay thế và những lĩnh vực có thể hợp tác quốc tế, tiếp nhận chuyển giao công nghệ.
Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ dàn trải theo tên ngành sang tập trung theo chuỗi, theo công đoạn và theo những bài toán lớn của đất nước.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả, có điều kiện và có thời hạn, trong đó Nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, chia sẻ rủi ro nhưng không tạo cơ chế xin – cho.
Thứ tư, chuyển từ chú trọng “thu hút FDI” sang “sử dụng hiệu quả FDI”, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ năm, chuyển từ quản lý theo hoạt động sang quản lý theo kết quả, trong đó, nguồn lực Nhà nước phải tạo ra thêm các nhà cung ứng đạt chuẩn và gia tăng giá trị trong nước.
Theo Phó Thủ tướng, doanh nghiệp phải là trung tâm và là chủ thể của quá trình phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, tạo thị trường ban đầu, trong đó thị trường trong nước là điểm tựa và xuất khẩu là thước đo cuối cùng của năng lực cạnh tranh.
Điện tử, bán dẫn phải tránh “vết xe cũ”
Một trong những yêu cầu đáng chú ý được Phó Thủ tướng Thường trực đặt ra là Việt Nam phải đồng thời giải quyết hai bài toán.
Một mặt, phải hoàn thiện những phần còn dang dở của quá trình công nghiệp hóa truyền thống. Mặt khác, không để các ngành công nghiệp mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, pin, năng lượng mới và hàng không vũ trụ lặp lại mô hình phát triển trước đây: có sản phẩm cuối cùng nhưng phần lớn linh kiện, vật liệu và công nghệ vẫn phải nhập khẩu.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành điện tử Việt Nam. Việc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu không thể chỉ dựa trên lợi thế về chi phí lao động hay năng lực lắp ráp. Doanh nghiệp Việt Nam cần từng bước nâng cấp lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, phát triển sản phẩm, sản xuất linh kiện – vật liệu, kiểm thử, tự động hóa và nghiên cứu phát triển.
Theo định hướng được nêu tại hội thảo, đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%; riêng điện tử khoảng 25-30%, công nghiệp công nghệ cao 15%. Việt Nam cũng đặt mục tiêu đưa chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Đến năm 2035, doanh nghiệp Việt Nam được định hướng chủ động hơn trong các khâu nghiên cứu, thiết kế và chế tạo.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và các đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm tại Hội thảo
Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên
Biến các dự án lớn thành “đơn đặt hàng đầu tiên”
Để tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị nghiên cứu cơ chế để các dự án đầu tư công, dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở năng lực đáp ứng, giá trị và hàm lượng công nghệ.
Các dự án lớn cũng cần gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực sản xuất trong nước.
Đối với khu vực FDI, định hướng không chỉ dừng ở việc thu hút các dự án có quy mô vốn lớn mà phải ưu tiên những dự án có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, trung tâm nghiên cứu – phát triển, chuyển giao công nghệ và chương trình phát triển nhà cung ứng Việt Nam.
Phó Thủ tướng Thường trực cũng lưu ý các tập đoàn trong nước cần chuyển từ việc mua các module hoàn chỉnh sang công bố tiêu chuẩn, đặt hàng từng phân hệ và đồng hành cùng nhà cung ứng Việt Nam trong quá trình nâng cao năng lực.
Phát triển công nghiệp vật liệu và nhân lực công nghệ cao
Một yêu cầu khác được nhấn mạnh là phát triển công nghiệp vật liệu, được xác định là “gốc của công nghiệp hỗ trợ”. Các lĩnh vực cơ khí chính xác, điện – điện tử, bán dẫn, pin và vật liệu mới cần được ưu tiên phát triển theo hướng Nhà nước đầu tư, doanh nghiệp đặt hàng và tạo đầu ra thực tế.
Cùng với hạ tầng kỹ thuật, Việt Nam cần phát triển hệ thống phòng thí nghiệm, đo lường, thử nghiệm và chứng nhận dùng chung đạt chuẩn quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp trong nước có thể đáp ứng yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao của các tập đoàn đa quốc gia.
Nguồn nhân lực cũng phải được chuyển mạnh theo nhu cầu của doanh nghiệp, ưu tiên các kỹ sư thiết kế, kỹ sư hệ thống, tổng công trình sư, kỹ thuật viên phòng sạch và đội ngũ lao động kỹ thuật có khả năng làm việc trong những ngành công nghệ cao.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và các đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm tại Hội thảo.
Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên.
Từ “lắp ráp” đến làm chủ chuỗi giá trị
Thông điệp từ hội thảo cho thấy phát triển công nghiệp hỗ trợ đang được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn: xây dựng năng lực tự chủ và nâng cấp vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với ngành điện tử – bán dẫn, đây là yêu cầu có tính dài hạn. Việt Nam cần tận dụng dòng dịch chuyển chuỗi cung ứng và sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ toàn cầu để xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ mở rộng năng lực sản xuất cuối cùng.
Muốn vậy, mối liên kết giữa doanh nghiệp đầu chuỗi, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp Việt Nam, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo phải được tổ chức lại theo hướng thực chất hơn. Mỗi chương trình hỗ trợ phải hướng tới một kết quả cụ thể: thêm nhà cung ứng đạt chuẩn, thêm sản phẩm do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ, thêm công nghệ được chuyển giao và thêm giá trị gia tăng được tạo ra trong nước.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, mục tiêu đã rõ; vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đó.
Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương xây dựng kế hoạch hành động Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2028, xác định rõ các chuỗi, phân hệ ưu tiên, cơ quan chịu trách nhiệm và các mốc kiểm tra kết quả. Đồng thời, các bộ, ngành và địa phương cần rà soát các dự án lớn để tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Về dài hạn, Việt Nam hướng tới một nền công nghiệp hỗ trợ có khả năng làm chủ công nghệ lõi của các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia những công đoạn có giá trị cao trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, qua đó nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.